banner vtca

Bản tin thuế tuần 04 tháng 03 năm 2021

03/26/2021 05:36:01 PM
Hội Tư vấn thuế Việt Nam trân trọng gửi tới Quý bạn đọc bản tin thuế tuần 04 tháng 03 năm 2021

 

I. CÔNG VĂN

1.   Công văn số 615/TCT-CS ngày 11/3/2021 về hoạt động chuyển nhượng vốn

Trường hợp bên chuyển nhượng vốn và bên nhận chuyển nhượng vốn đều là nhà đầu tư nước ngoài không hoạt động theo Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Công ty TNHH Cà phê Ngon là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam nơi 02 nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vôn thì Công ty TNHH Cà phê Ngon có trách nhiệm kê khai và nộp thay số thuế TNDN phải nộp từ hoạt động chuyển nhượng vốn của tổ chức nước ngoài theo quy định.

- về thời điểm chuyển nhượng vốn: Đề nghị Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk căn cứ hợp đồng chuyển nhượng vốn và tình hình thực tế để xác định thời điểm chuyển nhượng vốn tại Công ty TNHH Cà phê Ngon theo đúng quy định.

- Về giá chuyển nhượng: Theo công văn số 4207/CT-TTKT1 nêu trên của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk thì mức giá chuyển nhượng tại Hợp đồng chuyển nhượng vốn không số ngày 02/11/2017 giữa Công ty VNHH Tư nhân Jayanti Pte.Ltd (Singapore) và Công ty TNHH CCL Products (Ấn Độ) là không phù hợp với giá thị trường. Theo đó, Tổng cục Thuế thống nhất với đề xuất của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trường hợp mức giá chuyển nhượng Công ty TNHH Cà phê Ngon không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế thực hiện ấn định giá chuyển nhượng. Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk căn cứ quy định của pháp luật, hồ sơ khai thuế TNDN đối với hoạt động chuyển nhượng vốn, báo cáo tài chính của Công ty đến thời điểm chuyển nhượng vốn, tham khảo trường hợp chuyển nhượng vốn tương tự và tình hình thực tế chuyển nhượng vốn tại Công ty TNHH Cà phê Ngon để xác định giá chuyển nhượng theo đúng quy định.

 

2. Công văn 641/TCT-KK ngày 12/3/2021 về việc hoàn trả tiền thuê đất nộp thừa

Công ty CP Longhold Nhị Hà Quốc tế (trước đây là Công ty cổ phần khoáng sản công nghiệp du lịch Sài Gòn, sau đổi tên thành Công ty TNHH Nhị Hà) được UBND tỉnh Ninh Thuận cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm theo Quyết định số 8038/QĐ ngày 01/12/2004 , Hợp đồng thuê đất số 35A.04/HĐ-TĐ ngày 20/11/2007. Vì vậy, việc Cục Thuế tỉnh Ninh Thuận thông báo thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đất theo Thông báo số 925/TB-CT ngày 08/4/2008 trên cơ sở công văn số 1197/UBND-TH ngày 04/4/2008 của UBND tỉnh Ninh Thuận là không phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP.

Trường hợp Công ty Cổ phần Longhold Nhị Hà Quốc Tế đã nộp tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (30 năm, từ năm 2004 đến năm 2034), số tiền 1.209.383.562 đồng, có chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 08/4/2008, thì số tiền thuê đất đã nộp xác định là nộp thừa và được trừ vào số tiền thuê đất phải nộp các năm tiếp theo.

Ngày 02/12/2019, UBND tinh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 443/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đã cho Công ty Cổ phần Longhold Nhị Hà Quốc Tế, cho Công ty Cổ phần Nhị Hà Solar Farm thuê để tiếp tục thực hiện dự án Trang trại trồng cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi gia súc. Ngày 22/5/2020, Công ty Cổ phần Longhold Nhị Hà Quốc Tế gửi hồ sơ đề nghị hoàn tiền thuê đất nộp thừa đến cơ quan thuế. Như vậy, khoản nộp thừa đã quá mười năm kể từ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước nên cơ quan thuế không có cơ sở pháp lý để giải quyết hoàn thuế cho Công ty Cổ phần Longhold Nhị Hà Quốc Tế theo quy định tại Khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13; Khoản 1 , Khoản 3 Điều 60 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 .

 

3. Công văn 668/TCT-CS ngày 15/3/2021 về đối tượng nộp thuế tài nguyên

- Tại Điểm d Khoản 4 Điều 8, Điều 10, Khoản 6 Điều 11 và Khoản 1 Điều 42 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chỉ tiết một sô điêu của Luật Quản lý thuế quy định:

"Điều 8. Các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế khai quyết toán thuế

4. Các loại thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước khai theo từng lần phát sinh, bao gồm:

d) Thuế tài nguyên của tổ chức được giao bán tài nguyên bị bắt giữ, tịch thu, khai thác tài nguyên không thường xuyên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc không thuộc trường hợp phải cấp phép theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của các khoản thu về đất, lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, tiền cấp quyền và các khoản thu khác theo pháp luật quản lý sử dụng tài sản công

Người nộp thuế thực hiện quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 44 Luật quản lý thuế. Đối với thời hạn nộp hồ sơ khai của các khoản thu về đất, lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, tiền cấp quyền và các khoản thu khác theo pháp luật quản lý, sử dụng tài sản công theo quy định tại khoản 5 Điều 44 Luật Quản lý thuế được thực hiện như sau:…

          1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2020.”

Căn cứ quy định trên, đối với tài nguyên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu, thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải kê khai nộp thuế tài nguyên theo từng lần phát sinh bán ra trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định theo quy định của pháp luật

4. Công văn số 689/TCT-QLN ngày 17/3/2021 về việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Ngày 26/10/2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2379/QĐ-BTNMT về việc thu hồi Giấy phép khai thác khoáng sản", theo đó thu hồi giấy phép khai thác mỏ số 1179/QĐ-QLTN ngày 06/5/1996 của Bộ Công nghiệp (trước đây) cấp cho Công ty xi măng Phúc Sơn khai thác mỏ đá vôi Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và Quyết định số 2030/QĐ-BTNMT ngày 23/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc điều chỉnh tọa độ, diện tích khu vực khai thác mỏ đá vôi Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương của Công ty xi măng Phúc Sơn. Lý do thu hồi: Khu vực được phép khai thác khoáng sản bị công bố là khu vực cấm hoạt động khoáng sản theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 58 Luật Khoáng sản.

Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP nêu trên thì trường hợp Công ty phải dừng khai thác khoáng sản do yêu cầu của ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương thì thời điểm Công ty phải nộp số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phát sinh trong kỳ được lùi bảng thời gian Công ty dừng khai thác khoáng sản.

 

II. THÔNG TƯ

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 19/2021/TT-BTC ngày 18/3/2021 hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Việc ban hành thông tư hướng dẫn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế nhằm hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế số 38 liên quan đến hồ sơ, thủ tục về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế từ khâu: đăng ký thuế; khai thuế; nộp thuế; xác nhận thông tin thực hiện nghĩa vụ thuế; bù trừ tiền thuế, tiền phạt; hoàn thuế; miễn, giảm thuế; khoanh, xóa nợ tiền thuế…

Thông tư quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng trách nhiệm của người nộp thuế (NNT) cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế. Đặc biệt, NNT được thực hiện các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ và ngày tết.

Thông tư cũng đã kế thừa các quy định đang thực hiện ổn định và không có vướng mắc tại Thông tư số 110/2015/TT-BTC; Thông tư số 66/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 110/2015/TT-BTC về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

NNT thực hiện giao dịch thuế điện tử phải có khả năng truy cập và sử dụng internet, có địa chỉ thư điện tử, có chữ ký số hoặc có số điện thoại di động được một công ty viễn thông ở Việt Nam cấp đã đăng ký sử dụng để giao dịch với cơ quan thuế, trừ trường hợp NNT lựa chọn phương thức nộp thuế điện tử theo quy định của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Đồng thời, NNT cũng có thể lựa chọn nhiều phương thức giao dịch như: trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính đã được kết nối với Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác đã được kết nối với Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. Song song với đó, các tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN cũng được Tổng cục Thuế chấp nhận kết nối với Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thực hiện nộp thuế điện tử.

Riêng hồ sơ khai thuế, NNT được lựa chọn thêm phương thức lập hồ sơ khai thuế bằng phần mềm, công cụ hỗ trợ kê khai do cơ quan thuế cung cấp, hoặc của NNT đáp ứng chuẩn định dạng dữ liệu của cơ quan thuế, sau đó truy cập vào Cổng TTĐT mà NNT lựa chọn, ký điện tử và gửi hồ sơ khai thuế điện tử đến cơ quan thuế. Trường hợp nộp hồ sơ khai thuế bao gồm cả tài liệu theo quy định của pháp luật mà NNT không gửi được theo phương thức điện tử thì NNT gửi trực tiếp tại cơ quan thuế hoặc qua đường bưu chính.

NNT, cơ quan thuế, các tổ chức cá nhân khác có liên quan, đã hoàn thành việc thực hiện giao dịch thuế điện tử theo quy định tại Thông tư này thì không phải thực hiện các phương thức giao dịch khác và được công nhận đã hoàn thành thủ tục thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Thông tư 19/2021/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/5/2021.